1. Diễn biến vụ việc: Đường dây làm giả văn bằng, chứng chỉ hoạt động trên không gian mạng

Theo thông tin được công bố, ngày 23/10/2026, Công an TP. Hà Nội thông tin về việc phối hợp giữa các đơn vị nghiệp vụ triệt phá một đường dây làm giả, mua bán văn bằng, chứng chỉ quy mô lớn thông qua mạng xã hội và các website.

Các thủ đoạn được xác định bước đầu gồm:

  • Quảng cáo trên mạng xã hội: Sử dụng tài khoản mạng xã hội với thông tin giả để quảng cáo, chào bán văn bằng, chứng chỉ giả trong các hội, nhóm trên Facebook.
  • Tổ chức sản xuất tài liệu giả: Trang bị máy in màu, máy khắc dấu, máy ép dấu, máy photocopy, máy tính và nhiều con dấu giả mang tên cơ quan, trường học, tổ chức công chứng.
  • Phân công công việc: Các đối tượng bị điều tra được cho là phân chia nhiệm vụ từ sản xuất, hoàn thiện giấy tờ đến đóng gói và giao hàng.
  • Mua bán có thu tiền: Giá bán mỗi văn bằng giả được thông tin ở mức khoảng 1–2 triệu đồng; người giao hàng được cho là nhận hoa hồng theo từng đơn.
  • Mở rộng nguồn cung: Vụ án còn liên quan đến hai giảng viên bị cáo buộc có liên hệ trong việc cung cấp hoặc làm văn bằng, chứng chỉ theo nhu cầu của người mua.

Theo số liệu điều tra sơ bộ được công bố, từ năm 2024, đường dây này đã bán gần 1.500 văn bằng, chứng chỉ giả, thu lợi bất chính gần 3 tỷ đồng. Cơ quan chức năng thu giữ 54 văn bằng, chứng chỉ giả và xác định 20 người có liên quan đến việc mua, sử dụng các giấy tờ này.

Ngày 6/10/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Hà Nội đã khởi tố vụ án về hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Theo thông tin được cung cấp, 10 người bị khởi tố; trong đó, 8 người bị tạm giam và 2 người bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

Lưu ý: Các thông tin về hành vi, vai trò và trách nhiệm của từng người cần được xác định theo kết quả điều tra, chứng cứ thu thập được và phán quyết có hiệu lực của Tòa án.

2. Căn cứ pháp lý: Điều 341 Bộ luật Hình sự quy định như thế nào?

Hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng những tài liệu giả này để thực hiện hành vi trái pháp luật có thể bị xem xét theo Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung.

2.1. Khung hình phạt cơ bản

Theo khoản 1 Điều 341, người phạm tội có thể bị áp dụng một trong các hình phạt:

  • Phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 100 triệu đồng;
  • Phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm;
  • Phạt tù từ 6 tháng đến 2 năm.

Việc áp dụng hình phạt cụ thể phụ thuộc vào hành vi phạm tội, tính chất, mức độ nguy hiểm, các tình tiết liên quan và quy định pháp luật áp dụng tại thời điểm xét xử.

2.2. Trường hợp bị áp dụng khung hình phạt tăng nặng

Theo khoản 2 Điều 341, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 2 năm đến 5 năm khi thuộc một trong các trường hợp luật định, chẳng hạn:

  • Có tổ chức;
  • Phạm tội 2 lần trở lên;
  • Làm từ 2 đến 5 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác;
  • Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả để thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng;
  • Thu lợi bất chính từ 10 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng;
  • Tái phạm nguy hiểm.

2.3. Trường hợp bị áp dụng khung hình phạt cao hơn

Theo khoản 3 Điều 341, mức phạt tù từ 3 năm đến 7 năm được áp dụng trong các trường hợp luật định, bao gồm:

  • Làm từ 6 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả trở lên;
  • Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả để thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng;
  • Thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng trở lên.

Ngoài ra, khoản 4 Điều 341 còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng.

Điểm cần chú ý: Không thể chỉ dựa vào tổng số văn bằng giả hoặc tổng số tiền thu được của cả đường dây để mặc nhiên xác định khung hình phạt cho từng người. Cơ quan tiến hành tố tụng phải làm rõ hành vi cụ thể, số lượng giấy tờ liên quan, khoản thu lợi gắn với từng người và các tình tiết định khung theo quy định pháp luật.

3. Trách nhiệm pháp lý của từng nhóm người liên quan

3.1. Người tổ chức, cầm đầu đường dây

Những người bị cáo buộc góp vốn, chuẩn bị máy móc, tổ chức sản xuất, quản lý hoạt động và điều hành việc mua bán văn bằng giả có thể bị xem xét về vai trò tổ chức hoặc thực hành phạm tội.

Để xác định trách nhiệm, cơ quan điều tra cần làm rõ:

  • Ai khởi xướng và điều hành hoạt động;
  • Ai chuẩn bị phương tiện, địa điểm và con dấu giả;
  • Ai trực tiếp làm giả hoặc chỉ đạo người khác thực hiện;
  • Ai quản lý đơn hàng, nhận tiền và phân chia lợi nhuận;
  • Phạm vi hành vi mà từng người biết, thống nhất và thực hiện.

Nếu có đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội có tổ chức, đây có thể là tình tiết định khung tăng nặng theo khoản 2 Điều 341. Tuy nhiên, vai trò cầm đầu và mức độ chịu trách nhiệm của từng người vẫn phải được chứng minh bằng chứng cứ cụ thể.

3.2. Người trực tiếp sản xuất, hoàn thiện văn bằng giả

Người trực tiếp in ấn, làm phôi, ép plastic, đóng dấu hoặc hoàn thiện văn bằng, chứng chỉ giả có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự nếu hành vi đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm.

Việc đánh giá cần căn cứ vào:

  • Tính chất và mức độ tham gia vào quá trình làm giả;
  • Số lượng, loại giấy tờ giả đã thực hiện;
  • Nhận thức về mục đích sử dụng của giấy tờ;
  • Mức độ liên hệ với người tổ chức và người mua;
  • Khoản tiền được hưởng và những tình tiết liên quan khác.

Không phải mọi người tham gia một công đoạn kỹ thuật đều mặc nhiên có cùng trách nhiệm với người cầm đầu. Trách nhiệm hình sự phải được cá thể hóa theo vai trò và hành vi đã được chứng minh.

3.3. Người vận chuyển, giao nhận văn bằng giả

Đối với người giao hàng hoặc vận chuyển giấy tờ giả, cần phân biệt giữa việc thực hiện dịch vụ giao nhận thông thường và hành vi cố ý tham gia vào đường dây phạm tội.

Các vấn đề cần làm rõ gồm:

  • Người vận chuyển có biết hàng hóa là văn bằng, chứng chỉ giả hay không;
  • Có biết và thống nhất với mục đích mua bán trái pháp luật hay không;
  • Có tham gia tổ chức, đóng gói, giao nhận theo sự phân công của đường dây hay không;
  • Có được trả công, hưởng hoa hồng hoặc nhận lợi ích khác hay không;
  • Có chứng cứ nào chứng minh người đó cố ý giúp sức cho hành vi phạm tội hay không.

Theo Điều 17 Bộ luật Hình sự, đồng phạm là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Vì vậy, chỉ riêng việc giao một bưu kiện hoặc nhận tiền công giao hàng chưa đủ để kết luận người giao hàng là đồng phạm. Cần chứng minh yếu tố cố ý và sự tham gia thực tế vào hành vi phạm tội.

3.4. Hai giảng viên bị khởi tố trong vụ án

Theo thông tin được công bố, hai giảng viên bị khởi tố và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú do bị cáo buộc có liên quan đến việc cung cấp hoặc làm văn bằng, chứng chỉ theo nhu cầu của người mua.

Đối với nhóm này, cơ quan điều tra cần xác định:

  • Có trực tiếp làm giả, cung cấp hoặc tạo điều kiện làm giả giấy tờ hay không;
  • Có sử dụng vị trí công tác, thông tin hoặc tài liệu nội bộ để hỗ trợ hành vi phạm tội hay không;
  • Có biết rõ tính chất giả mạo và mục đích sử dụng của giấy tờ hay không;
  • Có thỏa thuận, phân công hoặc nhận lợi ích từ hoạt động trái pháp luật hay không.

Việc là giảng viên hoặc đang công tác tại cơ sở giáo dục không tự động làm phát sinh trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm phải được xác định từ hành vi cụ thể, yếu tố lỗi và chứng cứ trong hồ sơ vụ án.

4. Người mua hoặc sử dụng văn bằng, chứng chỉ giả có bị xử lý hình sự không?

Đây là vấn đề cần đặc biệt lưu ý bởi không chỉ người sản xuất, mua bán mà cả người đặt mua hoặc sử dụng giấy tờ giả cũng có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý tùy trường hợp.

4.1. Trường hợp mua để sử dụng vào mục đích trái pháp luật

Nếu một người biết rõ văn bằng, chứng chỉ là giả nhưng vẫn sử dụng để xin việc, bổ nhiệm, đáp ứng điều kiện tuyển dụng, hoàn thiện hồ sơ hoặc thực hiện hành vi trái pháp luật khác, người đó có thể bị xem xét trách nhiệm theo Điều 341 Bộ luật Hình sự nếu hành vi đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm.

Cơ quan chức năng cần chứng minh người đó biết giấy tờ là giả, có hành vi sử dụng và đáp ứng các điều kiện pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự.

4.2. Trường hợp chỉ mua hoặc đang giữ văn bằng giả

Không nên đồng nhất mọi trường hợp mua, nhận hoặc cất giữ văn bằng giả với hành vi phạm tội đã hoàn thành.

Cần làm rõ mục đích mua, nhận thức của người mua, hành vi đã thực hiện và các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định pháp luật. Việc chỉ có giấy tờ giả trong tay không tự động chứng minh người đó đã sử dụng tài liệu giả để thực hiện hành vi trái pháp luật.

4.3. Trường hợp sử dụng văn bằng giả để thực hiện hành vi phạm tội khác

Nếu văn bằng, chứng chỉ giả được sử dụng nhằm thực hiện một hành vi phạm tội khác, người sử dụng có thể phải chịu trách nhiệm đối với hành vi tương ứng nếu đủ căn cứ pháp lý. Việc xác định tội danh và khung hình phạt phải căn cứ vào toàn bộ hành vi, hậu quả, mục đích và quy định pháp luật áp dụng; không thể suy đoán chỉ từ việc người đó có văn bằng giả.

5. Khoản thu lợi gần 3 tỷ đồng có được áp dụng cho tất cả những người bị khởi tố?

Theo thông tin điều tra sơ bộ, đường dây bị cáo buộc thu lợi bất chính gần 3 tỷ đồng từ việc bán gần 1.500 văn bằng, chứng chỉ giả kể từ năm 2024.

Tuy nhiên, cần phân biệt rõ tổng số tiền thu được của cả đường dây với khoản thu lợi bất chính được xác định đối với từng người.

  • Đối với người tổ chức, điều hành: Cần làm rõ khoản tiền trực tiếp thu được, lợi ích được hưởng và phạm vi tham gia.
  • Đối với người trực tiếp sản xuất: Cần xác định tiền công, lợi nhuận hoặc lợi ích khác gắn với hành vi phạm tội.
  • Đối với người giao nhận: Cần làm rõ khoản hoa hồng, tiền công và việc người đó có cố ý tham gia hoạt động phạm tội hay không.
  • Đối với người mua, sử dụng: Cần xem xét hành vi cụ thể và căn cứ truy cứu trách nhiệm, không mặc nhiên quy trách nhiệm về khoản thu lợi của đường dây.

Tổng số tiền gần 3 tỷ đồng là dữ kiện quan trọng để điều tra, đánh giá quy mô hoạt động. Tuy nhiên, việc áp dụng tình tiết định khung về thu lợi bất chính phải dựa trên chứng cứ và căn cứ pháp luật đối với hành vi của người bị xem xét trách nhiệm.

6. Những vấn đề pháp lý cần rút ra từ vụ việc

Thứ nhất, văn bằng, chứng chỉ giả không chỉ gây rủi ro cho người mua

Việc làm giả và sử dụng văn bằng, chứng chỉ có thể ảnh hưởng đến tính minh bạch trong tuyển dụng, đánh giá năng lực, bổ nhiệm và hoạt động của các cơ quan, tổ chức. Người sử dụng giấy tờ giả còn có nguy cơ bị xử lý pháp lý và chịu các hậu quả liên quan đến hồ sơ, vị trí công việc hoặc quyền lợi đã đạt được.

Thứ hai, cần phân biệt trách nhiệm của từng người trong cùng một đường dây

Không thể áp dụng một cách đánh giá chung cho người tổ chức, người trực tiếp làm giả, người giao nhận và người mua. Cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh hành vi, lỗi, vai trò và các tình tiết liên quan của từng người.

Thứ ba, cần thận trọng với quảng cáo làm văn bằng, chứng chỉ trên mạng

Người dân không nên đặt mua văn bằng, chứng chỉ từ tài khoản mạng xã hội, website không rõ nguồn gốc hoặc dịch vụ cam kết cấp giấy tờ mà không cần đáp ứng điều kiện học tập, sát hạch hay cấp chứng chỉ hợp pháp. Khi phát hiện dấu hiệu làm giả, mua bán giấy tờ của cơ quan, tổ chức, cần chủ động lưu giữ thông tin liên quan và thông báo cho cơ quan có thẩm quyền.

Thứ tư, bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội

Việc khởi tố, bắt tạm giam hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn không đồng nghĩa với việc một người đã bị kết tội. Theo nguyên tắc suy đoán vô tội, người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

7. Khuyến nghị từ Luật Sao Việt

Để hạn chế rủi ro pháp lý liên quan đến văn bằng, chứng chỉ, cá nhân và doanh nghiệp cần:

  • Kiểm tra tính hợp pháp, nguồn cấp và khả năng xác minh của văn bằng, chứng chỉ trước khi sử dụng.
  • Không mua hoặc sử dụng giấy tờ được quảng cáo là có thể cấp nhanh, không cần học tập hoặc không cần đáp ứng điều kiện theo quy định.
  • Doanh nghiệp cần xây dựng quy trình kiểm tra hồ sơ tuyển dụng, xác minh văn bằng và lưu trữ tài liệu phù hợp.
  • Khi phát hiện giấy tờ có dấu hiệu giả mạo, cần chủ động xác minh và xử lý theo quy định, tránh tiếp tục sử dụng hoặc hợp thức hóa hồ sơ không hợp pháp.
  • Liên hệ ngay để được Luật sư, Chuyên viên pháp lý hỗ trợ kịp thời:

    - CÔNG TY LUẬT TNHH SAO VIỆT -            
    "Sự bảo hộ hoàn hảo trong mọi quan hệ pháp luật"         

    Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6243

    Địa chỉ tư vấn trực tiếp: Số 525 đường Lạc Long Quân, P. Tây Hồ, TP. Hà Nội

    Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email: congtyluatsaoviet@gmail.com

 

Bình Luận

© 2018 SAOVIETLAW.COM Bản quyền thuộc về công ty Công Ty Luật TNHH Sao Việt

logo-footer