Thưa Luật sư. Em muốn được tư vấn trường hợp như sau: Chồng em là lái xe taxi, vừa qua có nhận chở một khách đi lấy hàng. Khi đến điểm nhận hàng, người khách này nhận một túi đồ của người bán rồi mang lên để vào xe chồng em. Sau đó, người khách nói với người bán là  tiền để trên xe nên chờ một lát họ lên xe lấy rồi đưa. Vừa ngồi vào xe thì người khách giục chồng em lái xe đi để không phải trả tiền. Chồng em thấy vậy cũng lái đi, sau đó bán túi hàng được 40 triệu thì người khách trả chồng em 2 triệu tiền taxi và 3 triệu “bồi dưỡng” thêm. Tối ngày hôm đó chồng em và anh khách hàng kia đều bị bắt. Vậy luật sư cho em hỏi chồng em và anh đó bị quy tội cướp giật tài sản là đúng hay sai? Hay là tội lừa gạt chiếm đoạt tài sản ạ? Và tội của chồng em sẽ bị đi khoảng bao nhiêu năm tù, gia đình em muốn xin bảo lĩnh có được không ạ? Chồng em phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, là trụ cột trong gia đình ạ.

Hình ảnh chỉ mang tính minh họa. Nguồn: Internet.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến Luật Sao Việt. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi giải đáp như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp thì hành vi của người khách kia và chồng bạn có dấu hiệu của tội “Cướp giật tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 171 BLHS năm 2015:

“1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.”

Tội phạm này trực tiếp xâm hại đến quan hệ sở hữu tài sản của người sở hữu. Người thực hiện tội phạm là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự, từ đủ 14 tuổi trở lên.

Tính chất của hành vi phạm tội phải là công khai chiếm đoạt tài sản một cách nhanh chóng. Người phạm tội có thủ đoạn lợi dụng sơ hở hoặc tạo ra sơ hở của chủ tài sản rồi nhanh chóng chiếm đoạt và tẩu thoát. Người phạm tội phải thực hiện tội phạm với lỗi cố ý.

Dựa trên những phân tích trên, hành vi của chồng bạn và người khách phù hợp với tội “Cướp giật tài sản” chứ không phải “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Vì chưa nắm rõ từng tình tiết vụ án nên chúng tôi giả sử hai trường hợp như sau:

Trường hợp 1: Chồng bạn và khách đã thỏa thuận ngay từ đầu để phối hợp cướp túi hàng và không trả tiền, hoặc khi thực hiện chồng bạn hoàn toàn thống nhất ý chí với người khách là chạy trốn để không phải trả tiền

Trường hợp này thì chồng bạn đồng phạm tội “Cướp giật tài sản” với vai trò người giúp sức. Với tội danh này, chồng bạn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự từ 01 đến 05 năm tù.

Trường hợp 2: Chồng bạn hoàn toàn không biết mục đích của người khách mà chỉ thực hiện theo yêu cầu chờ người và hàng

Trường hợp này, chồng bạn không phải đồng phạm và không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Về việc bạn muốn xin bảo lĩnh cho chồng, trường hợp này có thể xin bảo lĩnh nhưng người bảo lĩnh phải đủ 18 tuổi trở lên, nhân thân tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, thu nhập ổn định và có điều kiện quản lý người được bảo lĩnh (ít nhất phải có 02 người nhận bảo lĩnh). Cá nhân nhận bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan có xác nhận của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập.

Lưu ý: Theo quy định tại Khoản 3 Điều 121 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì người được bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ sau đây:

“a) Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;

b) Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;

c) Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản này thì bị tạm giam.”

Trên đây là tư vấn của Luật Sao Việt, bạn đọc nếu còn thắc mắc cần giải đáp, vui lòng liên hệ với các Luật sư, chuyên viên pháp lý của Công ty Luật TNHH Sao Việt qua:

Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6243 hoặc E-mail: congtyluatsaoviet@gmail.com

Bình Luận

© 2018 SAOVIETLAW.COM Bản quyền thuộc về công ty Luật TNHH Sao Việt

logo-footer